Nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản

Nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản

Du lịch Khoa học Khoa học đời sống Sự kiện trong tuần Văn hóa Xã hội

Búp bê truyền thống Nhật Bản không chỉ là nét đẹp văn hóa của người Nhật mà đã trở thành món quà ý nghĩa mà nhiều người trên thế giới thích thú.

Búp bê truyền thống Kimekomi là một vật phẩm văn hoá phản ánh một khía cạnh quan trọng trong lịch sử – văn hoá đặc sắc cũng như sinh hoạt của người Nhật qua các thời kỳ lịch sử. Điểm đặc biệt của búp bê Kimekomi là mặt búp bê được phủ bằng một hỗn hộp bột vỏ hàu và keo (gọi là gofun), hoặc phủ bằng thạch cao, và hoàn toàn là sản phẩm thủ công. Búp bê hiện nay được sản xuất theo khuôn với một hỗn hợp bột gỗ kiri (cây paulownia) – chất dẻo, hoặc mạt cưa và một chất keo làm từ rong biển (gọi là funorin). Cùng tìm hiểu nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản.

Nếu dựa vào những hiện vật còn tồn tại để xác định niên đại ra đời của búp bê Nhật Bản, người ta có thể ước chừng chúng chỉ ra đời khoảng ba trăm năm trước đây. Dựa vào văn học và những tài liệu thư tịch có đề cập đến búp bê, niên đại có thể đưa lên tới 800 hoặc 900 năm, nghĩa là một phần ba lịch sử nước Nhật. Các khó khăn này là do ở chỗ các búp bê chỉ là những đồ chơi của trẻ con. Vật liệu làm ra chúng thường không được bền, hơn nữa không được giữ gìn chu đáo như các bức tượng hoặc tranh vẽ.

Nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản - Ảnh 1

Các búp bê xưa mà ngày nay chúng ta còn giữ được cũng chỉ vào khoảng thời gian đó, thời kỳ mà chúng trở thành những tác phẩm nghệ thuật, chúng phát triển từ đồ chơi của trẻ con thành đô mỹ nghệ của người lớn. Nếu, ngoại lệ, những búp bê nghệ thuật này có mang chữ ký hoặc khắc tên những người làm ra chúng thì cuộc sống của những nghệ nhân này vẫn còn trong bóng tối. Tại sao việc nghiên cứu búp bê chậm trễ so với lịch sử mỹ thuật nói chung? Đa số các nhà nghiên cứu đẩy lùi  nguồn gốc của búp bê Nhật Bản đến haniwa, một tục lệ có giá trị từ thời xưa: khi một nhân vật quyền quí nào mất, các người thân tín phục dịch nhân vật ấy cũng cùng đi theo xuống dưới mồ.

Tục lệ này đã làm không biết bao nhiêu gia đình phải tang tóc và làm mất đi không biết bao nhiêu người tài đức, có ích cho quốc gia. Khi hoàng hậu mất, hoàng đế Suirin tham khảo ý kiến vị quan Nomi-no-Sukuné, để thay đổi tệ tục này. Vị quan đề nghị chôn cùng với người chết những hình nhân bằng đất nung. Sáng kiến này được áp dụng ngay lập tức. Các tượng nhỏ này có tên gọi là haniwa. Chúng có chức năng hoàn toàn tôn giáo, và không thể xếp vào loại đồ chơi như những con búp bê. Nhưng chúng ta tìm thấy trong lịch sử nước Nhật, cũng như trong lịch sử búp bê Nhật, những thời kỳ trước đó, sáng kiến đặc biệt: thay người bằng hình nhân.

Người ta đọc thấy chẳng hạn, trong một tài liệu lịch sử là hoàng đế Kanmu xây dựng (năm794) “Kinh đô của Hoà Bình” ở địa điểm Kyoto ngày nay, chôn với những bài kinh câu là các hình nhân chiến sĩ ở bốn góc thành để họ trở thành thần nhân che chở cho kinh thành. Chúng ta có thể kể những ví dụ khác về sự nhân cách hoá này trong thời cổ đại Nhật Bản, búp bê Amakatsu, mà các bậc cha mẹ bỏ trôi theo dòng nước để cầu xin những vị thần này hãy chuyển sang búp bê những tai họa đe doa con cái họ. Tục lệ này có giá trị cho đến khi con họ được ba tuổi. Tinh thần lễ tẩy uế này, hay misogi, không chỉ có vào thời cổ đại mà cả sau này nữa.  Chúng ta có thể nói rằng khởi thuỷ búp bê ở Nhật Bản không xa lạ với tín ngưỡng dùng “hình nhân thế mạng”. Về mặt kỹ thuật và tạo hình, búp bê Nhật Bản đã được xếp thành nhiều loại khác nhau như sau:

– Búp bê Kamo: Là nhũng búp bê đẽo bằng gỗ mà quần áo thường làm bằng gấm, lụa v.v. với mặt và tứ chi không sơn phết mà để nguyên màu gỗ tự nhiên. Búp bê Kamo do một thầy tu ở đền Kamo, Kyoto sáng tạo nên cách đây hai trăm năm. Nhờ vẻ mộc mạc, giản dị, thuần phác, loại này rất thịnh hành vào thời Takugawa. Các búp bê này có đề tài phần lớn là những đứa trẻ trần truồng hay những con rối của sân khấu hát No. 

– Búp bê Gosho: Theo tục lệ, những daimyo các địa phương phía Tây thường tặng một món quà cho hoàng đế và các quan trong triều, khi họ đi qua Kyoto. Để trả lễ, hoàng đế hay các quan trong triều biếu lại họ một con búp bê bằng gỗ sơn gofun. Do đó có cái tên gọi là búp bê Gosho (tiếng Nhật có nghĩa là “hoàng cung”). Đặc điểm các búp bê loại này: đa số có đề tài là những đứa trẻ trần truồng, mặc dù cũng có cái mặc quân áo, thường là đầu to hơn người, với mặt mày rạng rỡ, với đôi mắt gắn thuỷ tinh nhỏ như mắt voi. Tỷ lệ ước định giữa đầu và thân là một phần hai, luôn luôn sơn trắng và bóng.

Nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản - Ảnh 2

– Búp bê Saga: Những con búp bê làm bằng gỗ đẽo, trang trí với những mô típ hình hoạ vẽ rất khéo léo, nổi cao lên so với bề dày của màu sắc. Thật ra, đây là những đồ mỹ nghệ hơn là đồ chơi trẻ em và trong thực tế, loại này phát sinh từ tính ham mê nghệ thuật, theo lời tài tử, của các nhà điêu khắc tượng Phật, vì đa số búp bê thuộc loại này có đề tài là các sư sãi hoặc tu sĩ. Các búp bê Saga tương đối nhỏ, cái lớn nhất không cao quá 30cm. Tên gọi Saga là một địa điểm gần Kyoto mà theo truyền thuyết do một viên chức cao cấp về hưu và đã làm những con búp bê này vào những năm cuối đời. Sự đặt tên này không có nghĩa những con búp bê này là một đặc sản của Saga; về sau, loại này được tạo tác và nâng cao giá trị ở Edo và sản sinh loại Edo-Saga. Nguồn gốc của những búp bê này lên tới năm 1600, đến mãi cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, kỹ thuật này mới phát triển thật sự.

– Isho-Nigyo hay Búp bê phong tục: Là những búp bê có chủ đề phụ nữ, các thị thần, các thị đồng với những bộ kimono cắt may như y phục của những nhân vật quan trọng. Loại này chịu ảnh hưởng cái thế giới chung của Ukiyoe và có tên gọi khác là “búp bê phong tục”. Loại này được chia ra làm hai loại:

a. Isho-Ningyo bằng gỗ đẽo có sơn phết và mặc quần áo. Đây là loại búp bê có rất nhiều quần áo để thay đổi.

b. Kitsuke-Ningyo, loại búp bê có mặt và chân tay đẽo bằng gỗ và sơn bằng gofun, còn thân người thì giấu dưới bộ kimono, làm bằng thanh gỗ hay giấy bồi dán quần áo lên.

Trong loại này có con được làm vào năm 1600 nhưng đa số là vào nửa cuối thế kỷ XVII.

– Búp bê bằng gỗ đẽo: Những con búp bê chúng ta vừa kể trên nói chung được đẽo bằng gỗ nhưng hoặc được phủ vải hoặc màu sơn gofun hay màu khác cho nên chất gỗ trở nên thứ yếu. Ngược lại, loại này làm nổi bật giá trị của gỗ đẽo, chúng cho thấy tài nghệ của nghệ nhân. Loại này thường có chủ đề là các nhân vật của sân khấu No hay của Bougaku, múa nghi lễ của triều đình.

– Búp bê bằng đất nung: là loại búp bê làm bằng đất nung có sơn màu. Nó có khắp nơi ở Nhật Bản. Nổi tiếng nhất là búp bê Fushimi gần Kyoto, búp bê Hakata, Kyoshu, Hananomaki, Tsutsumi và Koga ở phía Bắc. Loại này có rất nhiều đề tài.

– Các loại búp bê khác: Ngoài những loại búp bê kể trên ta còn có những búp bê làm bằng giấy bồi, bằng sứ, bằng kim loại, bằng tre, bằng vải v.v.

Các con búp bê có dây cót thuộc loại Karakuri (búp bê máy) trong đó có các loại búp bê của sân khâu rối Ayatsuri (búp bê điều khiển).

– Búp bê Hina: Cuối cùng là những búp bê dành cho lễ hội búp bê tổ chức vào tháng 3 và tháng 5. Những búp bê này có tên gọi đặc biệt là búp bê Hina. Đa số làm bằng gỗ đẽo, sơn với màu gofun và mặc quần áo nhân vật mà nó biểu hiện. Một số có mặt bằng ngà. Loại búp bê này và những nghi lê chào mừng chúng cần được giải thích chi tiết hơn.

Các lễ hội búp bê: Tình yêu thương con cái của người Nhật được thể hiện qua lễ búp bê. Các lễ hội này là một bài thơ tuyệt tác trong năm và con trẻ chờ đợi chúng như lễ Giáng sinh đối với trẻ con châu Âu. Nhiều gia đình phải mắc nợ khi tặng cho con cái mình một loạt búp bê Hina bằng cả hai tháng lương của họ mà không ai kêu ca gì.

Nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản - Ảnh 3

– Hina-Matsuri (lễ búp bê của các cô bé): Lễ các búp bê, ngày nay chỉ còn là một trò chơi trẻ con, có một nguồn gốc rất quan trọng. Trong thời cổ xưa ở Nhật Bản có những con búp bê gọi là Amakatsu mà các cha mẹ ném xuống sông để cầu xin các thần chuyển sang búp bê những tai họa đe dọa con cái họ. Những con búp bê này thường là một khúc gỗ hình chữ thập trên có buộc một mặt vải. Búp bê này dùng trong một nghi thức tẩy uế, trong thời gian được đồng hoá với búp bê – trò chơi được đề cập trong Truyện Genji và trong Các ghi chép đầu giường và tạo thành loại Dairi hoặc cặp búp bê Hoàng đế và Hoàng hậu trong lễ búp bê.

Những con búp bê Dairi đầu tiên, (theo các tranh ảnh cũ) có thân hình dài với hai cánh tay dang hai bên, do nó mang hình chữ thập. Những búp bê này gọi là Hina-đứng. Ngoài ra còn có các Hina-ngồi, Vào thời Tokugawa, thành tố tín ngưỡng này được thể hiện trong lễ các búp bê. Tháo các Dairi cũ của thời kỳ này, người ta tìm thấy trong thân các búp bê này một bùa chú Phật giáo và một mảnh giấy trên ghi tên đứa trẻ cùng ngày sinh tháng đẻ. Lễ không có ngày chính xác, dần dần được ấn định vào ngày thứ ba của tháng Ba âm lịch. Không những ngày này đều đúng vào mùa đẹp nhất trong năm, mùa của hoa anh đào và hoa mơ nở, mà trong thời xa xưa nó còn là ngày của lễ tẩy uế.

Nhưng từ giữa thời Tokugawa, khi các dòng họ Shogun, quí tộc và trưởng giả tranh đua xa hoa, nguồn gốc của lễ được quên đi và chỉ còn cái đẹp được phát triển. Và thời kỳ này cũng mở đầu cho việc trưng bày các búp bê theo từng bậc. Một loạt các búp bê – Hina cấu thành triều đình. Trên nấc cao nhất là các Dairi nghĩa là Hoàng đế và Hoàng hậu. Quần áo chúng đa số được thể hiện theo thời Heian, thời vàng son của nền văn hóa quí tộc. Hoàng đế đội trên đầu một vương trượng. Hoàng hậu đội trên đầu một vương miện chạm vàng, bạc và cầm một quạt trầm. Ở nấc thứ hai là ba thị nữ mặc kimono trắng váy đỏ. hai thị nữ bưng rượu sake, thị nữ thứ ba cầm một khay trên để ly.

Nấc thứ ba gồm có năm nhạc công mặt mũi vui vẻ. Người cầm sáo, người cầm trống lớn (Tym-pan), người cầm trống non và một ca sĩ. Ở nấc thứ tư, cách biệt bởi những hộp sơn màu để các đồ dâng, là hai quan giám mã, một già một trẻ: gươm ở thắt lưng, cung trên tay và năm mũi tên sau lưng. Ở nấc thứ năm, giữa cây anh đào và cây cam của triều đình là ba tên hầu, kẻ mang lọng đã gập, kẻ bưng giày, kẻ cầm cái càng xe. Nấc cuối cùng dành riêng cho các phụ tùng như xe, kiệu, bộ đồ ăn, hòm quần áo, tủ, hộp đựng đồ dùng. Những phụ tùng này càng nhiều thì búp bê càng sang trọng hơn.

Chúng được làm bằng sơn mài trang trí hoa văn và điểm vàng, có thể mở rá, đóng laị và đựng đủ thứ vật dụng như lược chải tóc, phấn, son, v.v. Những con búp bê nêu trên là những nhân vật chủ yếu phải có. Ngoài ra còn có đủ loại búp bê khác với những đề tài mượn của truyền thuyết và lịch sử. Nhiều khi cũng có cả các con búp bê châu Âu. Trong dịp lễ, người ta dâng cho các búp bê xirô sake, thức uống làm bằng cơm rượu pha nước. Cha mẹ và khách khứa cũng được mời uống. Trẻ con thì uống loãng hơn. Và như thường lệ, loại bánh gạo hình quả trám hishimochi với maù sắc rực rỡ cũng như được đem mời.

Nguồn gốc của búp bê trong truyền thống văn hóa Nhật Bản - Ảnh 4

– Tango-no-sekku (lễ búp bê dành cho con trai): Lễ búp bê cho con trai tổ chức vào ngày 5 tháng 5 và có nguồn gốc từ Sotokazaki hay “trang trí bên ngoài”, bắt chước cách thức lê thượng kỳ có từ thời Samourai. Họ trưng bày ngoài nhà họ những bản sao các cờ xí để xin chư thần phò hộ cho sự nghiệp quân sự của họ. Từ đầu, các búp bê chiến sĩ làm bằng giấy bìa được kèm theo cờ xí và chúng chỉ có ý nghĩa là để trang trí.

Dưới thời Tokugawa, tục lệ này cũng bành trướng trong giới giàu có và nghi lễ nhằm cầu mong cho con cái mình thành công. Nhưng sự treo cờ xí giả này bành trướng đến nỗi không còn chỗ khi các khu dân cư phát triển. Hơn nữa, những cờ xí này rất khó bảo quản, dễ cháy, nhất là vào thời Tokugawa, những đám cháy xảy ra thường xuyên. Vì vậy cờ xí được giảm xuống kích thước nhỏ nhất và đem vào trong nhà. Sotokazari không thể trưng ra ngoài, lễ cần có các búp bê khác ngoài những búp bê bằng giấy bìa.

Do đó nảy sinh ra tục lệ trưng bày những nhân vật truyền thuyết như Momotaro và những nhân vật anh hùng trong lịch sử như Toyotomi-Hideyosei, Kato-Kiyomasa,v.v. Sotokazari thu nhỏ vẫn giữ vai trò chính trong lễ. Tuy nhiên lễ không diễn ra quanh một nhân vật trung tâm như Dairi trong lễ của con gái và không thể phát triển như lễ này, cho mãi đến nay cũng chưa hoàn chỉnh. Người ta đã cố dùng Hoàng đế Jimmu, người sáng lập xứ sở, làm nhân vật trung tâm của lễ này, nhưng cũng không hấp dẫn như Dairi. Hơn nữa búp bê của con trai thường mượn các nhân vật lịch sử hay truyền thuyết hoang đường cụ thể và do đó khó cấu thành một nhóm gọn như triều đình trong lễ hội búp bê của các cô gái.

Ngày nay người ta còn tìm thấy dấu vết của Sotokazari trong tục lệ treo trên mái nhà những con cá chép bằng vải. Người Nhật gọi tục này là Koi-nobori. Người Nhật tin rằng những con cá này có can đảm nhảy ngược dòng và nhiều khi nhảy vượt qua thác. Lúc lễ, người ta dựng một cái cột trên có treo hai ba con cá chép lớn bằng vải và chúc các trẻ con vượt mọi trở ngại và thành công giống như các con cá chép. Mà thật thế, những con cá chép này bay theo gió dưới bầu trời xanh tháng năm trông thật hùng dũng. Lễ của con trai có tính chất hùng mạnh nên nó còn là một lễ ở ngoài trời như xưa kia.

Nguồn tổng hợp