Khơi lại câu hò cấy lúa ở Cù lao Minh vang bóng một thời

Khơi lại câu hò cấy lúa ở Cù lao Minh vang bóng một thời

Ca nhạc Văn hóa

“Câu Hò cấy lúa” là một mô hình trong bộ môn văn nghệ dân gian độc đáo, rất thịnh hành vào những năm thuộc thập niên ba mươi thế kỷ trước, tại Cù lao Minh nói chung và làng Hương Mỹ (Mỏ Cày) nói riêng.

Hàng năm, hễ bắt tay vào vụ cấy (từ tháng bảy đến nửa đầu tháng chín âm lịch), thì khắp đồng ruộng nơi đây, đâu đâu cũng vang lên rôm rả tiếng hát câu hò của anh chị em thợ cấy, nghe rất vui tai.

Câu hò như một món ăn tinh thần:

Ngày xưa chị em phụ nữ đi cấy không nhiều thì ít đều biết hò khi ra ruộng. Nếu trong đám cấy chỉ toàn nữ giới, họ sẽ xúm nhau lại, mỗi người hô vài câu như một nét văn hóa giải trí xưa không thể thiếu, không ngoài mục đích để mua vui cho quên mệt ngày hai buổi “lưng ngó trời, mắt nhìn nước”… Tuy nhiên, khi có một chàng trai nào xen vào hò với một cô gái thì đó gọi là hò đối đáp, hò cuộc. Nhưng hò cuộc hay hò đối đáp ở đây không có nghĩa là ganh đua cao thấp mà là hò với mục đích… gieo rắc tình cảm, tác động vào “quả tim non trẻ” của cô gái bằng những câu hò có nhiều ngôn từ quá ngọt ngào thân mật mà cô chưa từng được nghe ai gọi (bùi tai đến thế) bao giờ (như: “Em ơi!”, “mình ơi!”, “Em là người vợ anh yêu nhất đời!”) khiến cô đắm say mê mệt “người chồng mới quen nhau dăm phút” để rồi bị chàng trai hớp hồn bắt xác dễ dàng! Và cũng vì thế mà người thời bây giờ hay gọi chơi là "hò bắt xác”!


Khơi lại câu hò cấy lúa ở Cù lao Minh vang bóng một thời - Ảnh 1

Vấn đề “hò bắt xác” (hay kết hôn tự do) này xảy ra vào bảy tám mươi năm trước, thật là một chuyện lạ lùng! Nhưng càng lạ lùng hơn khi trong lúc đó xã hội và gia đình vẫn còn nặc “mùi phong kiến” và còn đầy rẫy những câu ngăn rào đón ngõ con cái tự lập gia đình, như: “Nam nữ thọ thọ bất thân”, “Áo mặc không qua khỏi đầu”, “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” v.v.

Thế mà cha mẹ của anh chị lấy nhau tự do này, họ còn thanh minh cùng xóm giềng làng nước: “Đời này kiếm gạo ăn còn chưa đủ, làm sao cưới vợ gả chồng cho tụi nó được. Thôi thì tự nó tự kiếm lấy cũng tốt thôi!”. Mặc dù các ông này biết Nho cũng khá!

Nhưng ngoài nét đặc thù vừa kể, hò cấy lúa còn có điểm thứ yếu nào khác nữa? Muốn biết, chúng ta hãy tìm xuất xứ của loại hò này: Nguyên ở miền Tây Nam Bộ ngày xưa có nhiều tên hò, nhưng tựu trung chỉ có hai thể loại, đó là hò “mái đoản’’ (câu ngắn, ít chữ) và hò “mái trường” (câu dài, nhiều chữ, khi hò dùng bao nhiêu từ cũng được, thông dụng nhất là ở Bến Tre). Loại “mái trường” này xưa anh, chị em thợ cấy hay hò chơi khi cấy lúa nên hò bèn gọi là “hò cấy lúa” cho hợp lý hơn. Và rồi từ đó quen miệng mà thành.

Nhìn chung, “hò ngắn” không được nhiều ưu điểm như lối “hò dài”. Bởi hò mái đoản cấu trúc gần giống như thơ lục bát, trên sáu, dưới tám ngắn quá, khiến cho người hò có giọng cao lúc cất tiếng nửa chừng bị hụt hẫng tắt giọng, không thoải mái. Ngoài ra, nó còn có nhiều trở ngại khác, như: khi hò nhân muốn hò đối đáp với nhau chơi, chỉ trong năm ba mươi phút thôi chứ kéo dài như người hò mái trường thì không được, bởi họ chỉ dựa vào các câu hò truyền khẩu, hay rút ra từ các tập hò đã in sẵn của nhà xuất bản Phạm Văn Thình, như: “Câu hò xay lúa”, “Câu hò chèo ghe” v.v. Và do đó, tuy gọi là hò đối đáp mà chỉ có đối ý, không đối vần. Tuy vậy, hò mái đoản cũng có vài ưu điểm: Lời văn trau chuốt dịu dàng, duyên dáng, nói lên được tình yêu tha thiết đậm đà của trai gái. Điều này không phải do người hò “ứng khẩu” mà do soạn giả soạn trước trong các tập hò kể trên. Ngoài ra nó còn có cái lợi: có thể sử dụng bất chấp thời gian và không gian: giờ giấc, ngày tháng nào cũng hò được; nơi chốn rộng hẹp nào cũng hò được (như hò xay lúa trong nhà, hò chèo ghe dưới sông…). Còn hò mái trường thì rất hạn chế: thời gian hò một năm chỉ được mấy tháng cấy; không gian hò ngoài ruộng.

Hò cấy lúa (hay hò mái trường) nhờ câu dài, nhiều chữ, khi hò, hò nhân tuý hứng ngân nga như ca vọng cổ nghe rất mùi mẫn; có điều lời hò rất đơn giản, mộc mạc, không văn hoa như hò mái ngắn. Nhưng bì thế nào được với ngôn từ của hò mái đoản, có người soạn trước, trong khi tác giả của hò  mái trường hầu hết là trai gái nông dân nghèo thiếu học? Vả lại, trong khi hò đối đáp, hò nhân phải vận dụng tính nhạy cảm và môi mép để “ứng khẩu thành câu hò” chỉ trong dăm phút; và hơn thế nữa, cũng trong dăm phút này, bao giờ nam nữ hò nhân cũng đối đáp với nhau đúng ý, đúng vần y như các nhà thơ Đường luật xướng hoạ vậy, mặc dù họ chưa hề bước qua trường lớp đào tạo nào; do đó, người thời bấy giờ còn gọi lối hò ấy là “hò mép”\

“Hò mép”, hiểu theo nghĩa thông thường, là lối hò do môi mép tạo ra chứ không theo sách vở nào cả. Tuy nhiên, để thay đổi không khí, đang hò mép họ chuyển sang qua hò chữ (nho) hay hò truyện (tàu) mươi câu rất hay! Điều này chúng tôi lấy làm lạ, những cô, chàng này Quốc ngữ còn chưa thông, sao hò chữ, hò truyện lại biết? Nhưng chúng tôi lại nghĩ, đây có lẽ là do yêu nghề, nên lúc rảnh rỗi họ tìm đến mấy cụ hay chữ, hay truyện để hỏi, rồi ghi vào “bộ nhớ” chờ khi có dịp đem ra xài?

Và ở đây chúng ta cũng nên biết thêm: Từ hò mép đến hò chữ, hò truyện, hễ bên “xướng” loại nào thì bên “hoạ” cũng phải hoà cho đúng ý, đúng vần, đúng cả truyện và chữ nữa, nếu không sẽ bị thua cuộc; vì đây là cái “luật ngầm” bất thành văn người chơi ai cũng phải tuân theo. Đến đây, để minh chứng biệt tài của người “hò cấy lúa” hay “hò mép” chúng tôi xin dẫn đôi câu trong mỗi loại hò như sau:

Hò mép:

(Dường như nam giới bạo mồm hơn nữ giới? Nên lúc nào có cuộc hò đối đáp, trai cũng dẫn đầu)

Nam: Hò… ơ… ớ… Tôi là người xa xứ lạ nay đến đây, trước là bỏ mạ 

giúp bác chủ điền (cả vạn cấy đồng hò rước hơi). Sau là hò chơi mấy hiêp để tìm bạn thuyền quyên tâm đồng…

Nữ: Hò… ơ… ớ… Anh là người lạ hoắc lạ huơ mới vừa gặp gỡ ai rõ được lòng (hò rước hơi). Làng em thiếu gì trai tơ chưa vợ, ai dám đèo bồng lấy anh!…

Hò chữ (Nho):

Nam: Hò… ơ… ớ… Dẫu biết rằng minh quân lương tể tao phùng dị, tài tử giai nhơn tê ngô nan (hò rước hơi). Nhưng khi anh quyết tìm em, dẫu xa năm sông bảy núi, hồ huống quan san dặm trường…

Nữ: Hò… ơ… ớ… Em cũng nghe nói rằng, hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt – vẽ cọp, vẽ da, nào ai vẽ được xương (hò rước hơi). Ngoài miệng anh nói năng ngọt xớt, chớ lòng anh biết có ngọt như đường hay không?

Hò truyện (Tàu):

Nam: Hò… ơ… ơ… Chuyện đời có ngược, có xuôi, ngày xưa trâu tìm cột, nay cột lại tìm trâu (hò rước hơi). Tại sao em không giả bộ như Lưu Kim Đính đi giải giá Thọ Châu tìm chồng?…

Nữ: Hò… ơ… ớ… Anh là người có ăn có học, sao ước chuyện khó mong (hò rước hơi). Chàng Tiết Đinh San đi cầu vợ là chị Phàn Lê Huê đến phải tam bộ nhất bái, lệ nhỏ đôi dòng đó sao?…

Đối với những danh hò về lối “hò cấy lúa” ngày xưa, hò có thể hò đối đáp với nhau liên tiếp hai ba ngày bất phân thắng bại; nhưng không phân thắng bại ở đây chẳng phải hoàn toàn do tài mà còn do sắc nữa, vì sắc khiến cho đối phương cảm tình nhau rồi nương tay cho nhau. Chứ hữu tài khiếm mạo, thì chỉ trong
mươi câu là bị “hạ mã” ngay tại hò trường, không hề thương tiếc!

Cũng chuyện này, lúc còn sinh tiền, chị Năm Khá, một nữ danh hò ở ấp Cổ Cò (nay là ấp 7 xã Minh Đức) có thuật lại với chúng tôi một giai thoại trong đời hò hát của chị như sau: Vào một buổi sáng năm đó, chị cùng mươi chị khác đang vừa cấy vừa hò chơi trên mẫu ruộng cách lộ đá Hương Mỹ chừng 50 thước (đường giao thông Thạnh Phú – Mỏ Cày – Bến Tre) bỗng thấy trên lộ có một anh chàng ăn bận rất sang: Đội nón mẩn cầu (casque) mang kiếng mát, mặc đồ bà ba trắng và đi guốc vông đang ngắm nghía tụi chị… rồi lột guốc, áo không xăn, quần không xo, lội đại xuống ruộng bất kể bùn nước đi tới tụi chị. Vừa đi vừa hò ghẹo: “Hò… ơ… ớ… Từ lâu tôi đã hằng nghe gái ở Mỏ Cày Hương Mỹ vừa xinh vừa đẹp, lại cũng giỏi hò (hò… ơ… ơ). Vảy xin quí cô cùng tôi hò chơi mấy chặp chớ đắn đo ngại ngùng…

Bấy giờ chị nghe nóng mũi quá, muốn hò đáp ngay. Nhưng khi thấy rõ mặt anh ta đầy mụn, tàn nhang đen thùi lùi chán ngấy không muốn hò; tuy nhiên, mấy đứa bạn xúi giục mãi chị đành phải nghe theo. Chỉ định hò lấy lệ rồi sẽ kiếm chuyện rút lui, ai ngờ, cứ bị anh hò buộc vô hoài… Rốt cuộc, chị phải hò độc một câu rứt anh ta ra. Chị hò: “Hò… ơ… ớ… Em nghe anh là người hay chữ, vậy cho em hỏi thử một vài (hò rước hơi). Chẳng biết Đắt Kỷ xưa kia bao nhiêu tuổi tác mà khiến Trụ Vương say đắm phải lên đài tự thiêu?…”.

– Thế câu này ông ta có đáp nổi không chị? – tôi hỏi, chị cười: “Có 

Trời mới đáp nổi!”. Chị nói thêm: “Ở nhà, tía chị có bộ truyện Phong thần. Trong đó chỉ nói: Ống Tô Hộ có người con gái sắc nước hương trời tên Tô Đắt Kỷ, khi đưa nàng đi dâng cho vua Trụ, giữa đường bị Hồ ly tinh nhập vào hồn, vậy thôi; chứ có nói tuổi tác gì đâu mà anh này hiểu? “Vậy là ông ta chào thua à?”, tôi hỏi. “Chứ thắng gì được! Vậy mà khi quay đầu ra lộ anh ta còn doạ chị: “Sang năm tôi đến nữa, cô sẽ biết tay tôi!”.

Khơi lại câu hò cấy lúa ở Cù lao Minh vang bóng một thời - Ảnh 2

Nghe anh nói phách, chị bèn “tống biệt” anh ta bằng một câu hò khá đau đầu:

–    Hò… ơ… ớ… Chuyện hơn thua trong câu hò tiếng hát có chi đâu sao anh hờn mát như thua bạc tại sòng! (hò rước hơi) Anh hãy về tìm thầy tu luyện, kẻo sang năm thua nữa chắc phải nhảy xuống sông trầm mình!…

–    Chị ác thật! Tôi cười.

Chị cũng cười và kết thúc câu chuyện bằng cách nhại lại lời tôi:

–    Chị cũng ác thật!

Ở vào thời kỳ “hò cấy lúa” thịnh hành nhất (khoảng 70 năm về trước) khách du hò đến làng Hương Mỹ, theo lời chị Năm Khá kể – không phải là hiếm, mà là hàng loạt. Mỗi năm cứ đến mùa cấy (tháng 7, 8, 9 âm lịch) thì rải rác khắp vùng ruộng nương trong xã Hương Mỹ, thỉnh thoảng mươi bữa, nửa tháng cũng có đôi khách du hò đến lùng sục tìm đối tượng (nữ hò nhân) để giao hò, đổi trao tình cảm không ngớt.

Tuy nhiên không chỉ có người xa đến đây “múa gậy rừng hoang”, mà hai danh hò làng ta là Năm Nữ, Mười Phát cũng “mang chuông đi đấm xứ người”! Đây không biết là hò tự ý hay đi trả đũa với khách du hò kia? chỉ biết rằng sau một chuyến du hò khá lâu, khi về họ mang về mỗi người một cô vợ trẻ ngon lành mà không tốn trầu cau mai mối gì cả, chỉ tốn có giọng hò thôi!

Với tựa đề “Hò cấy lúa ở cù lao Minh ” của bài này, đây là chỉ chung trai gái thợ cấy ở các quận nằm trong dãy cù lao ấy không nhiều thì ít ai cũng biết hò. Nhưng “Làng hò Hương Mỹ” là nổi tiếng nhất vì những nghệ nhân nơi đây có giọng hò hay và không hề thua cuộc bao giờ, như bên nam có các anh: Mười Phát, Năm Nữ, Tư Giác, Chín Hổ – anh này thời đánh Mỹ từng là huyện uỷ viên huyện Mỏ Cày; hiện gần trăm tuổi đang sống tại ấp Thạnh Tây – Hương Mỹ. Bên nữ có các chị: Ba Nhung, Hai Trầm, Năm Khá – xã Minh Đức, gia nhập vào vạn cấy Hương Mỹ, đã mất từ lâu…

Nhưng tiếc thay! Các nghệ nhân nổi tiếng về hò cấy lúa – hay hò mép – ngày xưa nay chỉ còn rải rác một đôi cụ sắp gần đất, xa trời; và lối hò đã từng vang bóng cũng sắp vĩnh viễn ra đi! Điều này khiến anh Chín Hổ, từng một thời oanh liệt trong ‘Làng hò Hương Mỹ” nuối tiếc, anh than thở với chúng tôi: “Hết rồi chú ạ! Khi tôi “về rừng” (1) rồi, thì cái lối hò cổ lỗ này, bọn trai gái trẻ ở đây có ai biết đến, mà họ chỉ biết hát “ka-ra-ô-kê” thôi! 

Nguồn tổng hợp