Công dụng trong bếp núc và thành phần dinh dưỡng có trong bột gạo

Công dụng trong bếp núc và thành phần dinh dưỡng có trong bột gạo

Ẩm thực Bệnh thường gặp Đời sống Gia đình Sức khỏe Y khoa

Gạo là nguồn lương thực chính của con người, nó cung cấp hơn 20% tổng năng lượng hấp thụ hằng ngày với nhiều dưỡng chất khác nhau.

Bột gạo có thành phần dinh phần dinh dưỡng cao, bên cạnh đó cũng nhiều công dụng và có người tận dụng cho mẹo vặt bếp núc. Chẳng hạn như pha ít bột gạo loãng rửa nấm đông cô cho trắng. Nhưng trên hết; bột gạo vẫn thường được dùng cho các món bánh. Phải ngâm cho mềm, xay cho nát rồi lại "đăng" cho kiệt nước, lúc ấy từ hạt gạo đơn thuần, người ta mới có được bột gạo, thứ bột trắng ngần, nhuyễn mịn và dùng làm được bao nhiêu món ăn tuyệt vời khác.

Bột của người châu Á trong bếp núc

Bột gạo! Cái tên đã nói rõ thành phần tạo nên bột. Bột gạo được làm từ gạo – hạt lương thực chủ yếu của nước ta. Ở châu Á, gạo cũng là cây lương thực chính. Theo đó, bột gạo cũng có một trong nhiều món ăn của vùng này và rất có thể, cách làm bột gạo đã được phổ biến từ xa xưa. Rất nhiều loại bánh cổ truyền của các nước châu Á đều có thành phần chính là bột gạo.

Món ăn được làm từ bột gạo

Điều này cho thấy nguồn gốc lâu đời cũng như tính phổ biến của nó. Như người Trung Quốc có bánh Nian Gao, người Hàn Quốc có bánh Chuseok, Songpyeon, Tteok hay bánh Mochigashi, Dango của người Nhật. Món Việt thì không hiếm. Bột gạo có thể làm bún, bánh tráng, bánh canh và nhiều loại bánh ăn chơi lót dạ.

Dinh dưỡng thiết thực của bột gạo

Vì đã được xay mịn và tồn tại dưới dạng bột nên bột gạo có rất nhiều công dụng, nhưng phổ biến nhất vẫn là làm bánh. Với thành phần chủ yếu là carbonhydrat (trên 80%) nên bột gạo chủ yếu cung cấp năng lượng cho cơ thể qua carbonhydrat với mức năng lượng 175kcal/50g (tinh bột gạo 82%). Trong 500g bột gạo, có chứa 83,5% glucid, 0,5% lipid, 1,4% protein. Do đó, bản thân bột gạo cũng là một loại bột dinh dưỡng. Hơn nữa, vì có thể làm được nhiều loại bánh khác nhau nên bột gạo được các bà nội trợ ưa chuộng.

Bột gạo được xay mịn từ hạt gạo

Ngoài việc tự làm bột gạo bằng cách xay thủ công, người ta có thể mua bột đóng gói sẵn. Tuy nhiên, tùy vào từng loại mà thành phần trong đó có sự pha trộn một chút, người ta có thể thêm ít bột năng dể bột dẻo hơn và cũng có thể cho vào đó ít muối. Bột gạo muốn chế biến thành món ăn thì cần pha nước. Nếu cần bột dẻo để gói bánh thì nên pha nước ấm khoảng 70% cho bột dễ kễt dính, quện thành khối với dinh lượng vừa đủ. Nếu còn bột loãng thì thêm nhiều nước. Bánh làm từ bột gạo hết sức phong phú. Ngoài những món truyền thống, bạn có thể cách tân một chút để cho ra món ăn ngon, lạ và không kém phần bổ dưỡng. 

Các chất dinh dưỡng trong bột gạo

Chất tinh bột chứa trong hạt gạo dưới hình thức carbohydrate (carb) và trong con người dưới dạng glucogen, gồm loại carb đơn giản như chất đường glucose, fructuose, lactose và sucrose; và loại carb hỗn tạp là một chuỗi phân tử glucose nối kết nhau chứa nhiều chất sợi. Tinh bột cung cấp phần lớn năng lượng cho con người. Gạo trắng chứa carb rất cao, độ 82 gram trong mỗi 100 gram. Do đó, 90% năng lượng gạo cung cấp do carb. Trong tinh bột có hai thành phần – amylose và amylopectin. Hai loại tinh bột này ảnh hưởng rất nhiều đến hạt cơm sau khi nấu, nhưng không ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng.

Hạt gạo có nhiều chất amylose sẽ làm cho hạt cơm cứng và hạt chứa ít amylose, nghĩa là nhiều amylopectin cho cơm dẽo nhiều hơn. Nếp chứa từ 0-10% amylose (hay 10-100% amylopectin) là thức ăn chính của người Lào, người Thái ở vùng Đông Bắc Thái Lan và nhiều dân tộc thiểu số ở các vùng núi. Gạo Japonica có từ 14-16% amylose cho cơm dẻo và dính nhau, là thức ăn căn bản của người Nhật Bổn, Đại Hàn, Bắc Triều Tiên. Gạo thơm thường có 21-23% amylose nên gạo không dẽo lắm mà cũng không cứng lắm sau khi nguội, ngoại trừ gạo Basmati với hạt cơm rời nhau. Các loại gạo thông thường của dân Đông Nam Á có khoảng 21-25% amylose.  

Hạt gạo có nhiều chất dinh dưỡng

– Chất protein: Gạo là loại thức ăn dễ tiêu hóa và cung cấp loại protein tốt cho con người. Chất protein cung cấp các phân tử amino acid để thành lập mô bì, tạo ra enzym, kích thích tố và chất kháng sinh. Chỉ số giá trị sử dụng protein thật sự của gạo là 63, so sánh với 49 cho lúa mì và 36 cho bắp (căn cứ trên protein của trứng là 100).

Vitamin: Cũng giống như các loại ngũ cốc khác, lúa gạo không chứa các loại vitamin A, C hay D, nhưng có vitamin B-1, vitamin B-2, niacin, vitamin E, ít chất sắt và kẽm và nhiều chất khoáng Mg, P, K, Ca.

– Thiamin là vitamin B1 giúp tiêu hóa chất đường glucose để cho năng lượng, vì thế hỗ trợ cho các tế bào thần kinh, hoạt động của tim và khẩu vị. Vitamin B1 không thể dự trữ trong cơ thể nên phải cung cấp hàng ngày. Gạo trắng cung cấp 0,07 mg B1/100 gram.

– Riboflavin: Gạo chứa ít chất riboflavin hay vitamin B2, rất cần thiết cho sản xuất năng lượng và nuôi dưỡng bì mô của mắt và da. Gạo trắng chứa 0,02 mg B2/100 gram.

– Niacin là yếu tố cần thiết để phân tách chất glucose cho năng lượng và cho da và hoạt động bình thường của hệ thần kinh. Gạo trắng chứa 1,8 mg Niacin/100 gram.

– Vitamin E là một loại sinh tố tan trong mỡ, giúp cho vitamin A và các chất béo chống oxyd hóa trong tế bào và bảo vệ hủy hoại của bì mô của cơ thể.

Ngoài ra, gạo còn cung cấp những chất khoáng cần thiết cho cơ thể với ít chất sắt (thành phần của hồng huyết cầu và enzym) và kẽm (giúp chống oxyd hóa trong máu, thành phần của enzym trong tăng trưởng, phân chia tế bào), nhưng nhiều chất P (giúp xương, răng, biến hóa trong cơ thể), K (cho tổng hợp protein, hoạt động enzym), Ca (giúp xương, răng và điều hòa cơ thể), muối (giữ cân bằng chất lõng trong cơ thể, hoạt động bình thường của hệ thần kinh và bắp thịt)…

Nguồn tổng hợp